This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Bộ đếm/ bộ định thời trong 8051

Bộ đếm/ bộ định thời trong 8051


Ø  Bộ đếm, bộ định thời là gì?
Ø  Các thanh ghi liên quan
Ø  Cách thức hoạt động của bộ đếm/bộ định thời
Ø  Các bước lập trình bộ đếm/bộ định thời

Giới thiệu

Bộ đếm/Bộ định thời: Đây là các ngoại vi được thiết kế để thực hiện một nhiệm vụ đơn giản: đếm các xung nhịp. Mỗi khi có thêm một xung nhịp tại đầu vào đếm thì giá trị của bộ đếm sẽ được tăng lên 01 đơn vị (trong chế độ đếm tiến/đếm lên) hay giảm đi 01 đơn vị (trong chế độ đếm lùi/đếm xuống).
Xung nhịp đưa vào đếm có thể là một trong hai loại:

Ø  Xung nhịp bên trong IC: Đó là xung nhịp được tạo ra nhờ kết hợp mạch dao động bên trong IC và các linh kiện phụ bên ngoài nối với IC. Trong trường hợp sử dụng xung nhịp loại này, người ta gọi là các bộ định thời (timers). Do xung nhịp bên loại này thường đều đặn nên ta có thể dùng để đếm thời gian một cách khá chính xác.
Ø  Xung nhịp bên ngoài IC: Đó là các tín hiệu logic thay đổi liên tục giữa 02 mức 0-1 và không nhất thiết phải là đều đặn. Trong trường hợp này người ta gọi là các bộ đếm (counters). Ứng dụng phổ biến của các bộ đếm là đếm các sự kiện bên ngoài như đếm các sản phầm chạy trên băng chuyền, đếm xe ra/vào kho bãi…

Một khái niệm quan trọng cần phải nói đến là sự kiện “tràn” (overflow). Nó được hiểu là sự kiện bộ đếm đếm vượt quá giá trị tối đa mà nó có thể biểu diễn và quay trở về giá trị 0. Với bộ đếm 8 bit, giá trị tối đa là 255 (tương đương với FF trong hệ Hexa) và là 65535 (FFFFH) với bộ đếm 16 bit.

            8051 có 02 bộ đếm/bộ định thời. Chúng có thể được dùng như các bộ định thờiđể tạo một bộ trễ thời gian hoặc như các bộ đếm để đếm các sự kiện xảy ra bên ngoài bộ VĐK. Trong bài này chúng ta sẽ tìm hiểu về cách lập trình cho chúng và sử dụng chúng như thế nào. Phần 1 là Lập trình bộ định thời, và phần 2 là Lập trình cho bộ đếm.

1. Các bộ định thời của 8051

            8051 có hai bộ định thời là Timer 0 và Timer 1, ở phần này chúng ta bàn về các thanh ghi của chúng và sau đó trình bày cách lập trình chúng như thế nào để tạo ra các độ trễ thời gian.

1.1 Các thanh ghi cơ sở của bộ định thời

            Cả hai bộ định thời Timer 0 và Timer 1 đều có độ dài 16 bit được truy cập như hai thanh ghi tách biệt byte thấp và byte cao. Chúng ta sẽ bàn riêng về từng thanh ghi.

1.1.1 Các thanh ghi của bộ Timer 0

            Thanh ghi 16 bit của bộ Timer 0 được truy cập như byte thấp và byte cao:

Ø  Thanh ghi byte thấp được gọi là TL0 (Timer0 Low byte).
Ø  Thanh ghi byte cao được gọi là TH0 (Timer0 High byte).

Các thanh ghi này có thể được truy cập, hoặc được đọc như mọi thanh ghi khác chẳng hạn như A, B, R0, R1, R2 v.v...


Hình 1: Các thanh ghi của bộ Timer 0

1.1.2 Các thanh ghi của bộ Timer 1

            Giống như timer 0, bộ định thời gian Timer 1 cũng dài 16 bit và thanh ghi 16 bit của nó cũng được chia ra thành hai byte là TL1 và TH1. Các thanh ghi này được truy cập và đọc giống như các thanh ghi của bộ Timer 0 ở trên.


Hình 2: Các thanh ghi của bộ Timer 1.

1.1.3 Thanh ghi TMOD

            Cả hai bộ định thời Timer 0 và Timer 1 đều dùng chung một thanh ghi được gọi là TMOD: để thiết lập các chế độ làm việc khác nhau của bộ định thời.

Thanh ghi TMOD là thanh ghi 8 bit gồm  có:

Ø  4 bit thấp để thiết lập cho bộ Timer 0.
Ø  4 bit cao để thiết lập cho Timer 1.

Trong đó:

Ø  2 bit thấp của chúng dùng để thiết lập chế độ của bộ định thời.
Ø  2 bit cao dùng để xác định phép toán.

  
Hình 3: Thanh ghi TMOD.

1.1.3.1 Các bit M1, M0

            Là các bit chế độ của các bộ Timer 0 và Timer 1. Chúng chọn chế độ của các bộ định thời: 0, 1, 2 và 3 như bảng dưới. Chúng ta chỉ tập chung vào các chế độ thường được sử dụng rộng rãi nhất là chế độ 1 và chế độ 2. Chúng ta sẽ sớm khám phá ra các đặc tính của các chế độ này sau khi khám phần còn lại của thanh ghi TMOD. Các chế độ được thiết lập theo trạng thái của M1 và M0 như sau:

M1
M0
Chế độ
Chế độ hoạt động
0
0
0
Bộ định thời 13 bit:8 bit  là bộ định thời/bộ đếm, 5 bit đặt trước.
0
1
1
Bộ định thời 16 bit: không có đặt trước.
1
0
2
Bộ định thời 8 bit: tự nạp lại.
1
1
3
Chế độ bộ định thời chia tách.
Bảng 1: Các chế độ hoạt động của bộ đếm/bộ định thời

1.1.3.2 Bit C/T (Counter/Timer)

            Bit này trong thanh ghi TMOD được dùng để quyết định xem bộ định thời được dùng như một máy tạo độ trễ hay bộ đếm sự kiện. Nếu bit C/T = 0 thì nó được dùng như một bộ định thời tạo độ trễ thời gian.

Ví dụ 1:
TMOD = 0000 0001 (01H) : chế độ 1 của bộ định thời Timer 0 được chọn.
TMOD = 0010 0000 (20H) : chế độ 2 của bộ định thời Timer 1 được chọn.
TMOD = 0001 0010 (12H) : chế độ 1 của bộ định thời Timer 1 và chế độ 2 của Timer 0 được chọn.

            Nguồn đồng hồ cho chế độ trễ thời gian là tần số thạch anh của 8051. Điều đó có nghĩa là độ lớn của tần số thạch anh đi kèm với 8051 quyết định tốc độ nhịp của các bộ định thời trên 8051. Tần số của bộ định thời luôn bằng 1/12 tần số của thạch anh gắn với 8051.


Hình 4: Tần số của bộ đếm/bộ định thời

Ví dụ 2:

Tần số thạch anh
Tần số bộ định thời
Chu kỳ bộ định thời
20MHz
20MHz/12=1,6666MHz
1/1,6666MHz=0,6us
12MHz
12MHz/12=1MHz
1/1MHz=1us
11,0592MHz
11,0592MHz/12=0,9216MHz
1/0,9216MHz=1,085us
Bảng 2: Một số tần số thông dụng

            Mặc dù các hệ thống 8051 có thể sử dụng tần số thạch anh từ 10 đến 40MHz, song ta chỉ tập trung vào tần số thạch anh 11,0592MHz. Lý do đằng sau một số lẻ như vậy là tốc độ baud đối với truyền thông nối tiếp của 8051. Tần số XTAL = 11,0592MHz cho phép hệ thống 8051 truyền thông với PC mà không có lỗi.

1.1.3.3 Bit cổng GATE

            Một bit khác của thanh ghi TMOD là bit cổng GATE. Để ý trên hình 3 ta thấy cả hai bộ định thời Timer0 và Timer1 đều có bit GATE. Vậy bit GATE dùng để làm gì? Mỗi bộ định thời thực hiện điểm khởi động và dừng. Một số bộ định thời thực hiện điều này bằng phần mềm, một số khác bằng phần cứng và một số khác vừa bằng phần cứng vừa bằng phần mềm. Các bộ định thời trên 8051 có cả hai:

Ø  Việc khởi động và dừng bộ định thời được khởi động bằng phần mềm bởi cácbit khởi động bộ định thời TR là TR0 và TR1. Điều này có được nhờ các lệnh Set bit TR0 lên 1 (khởi động bộ định thời) hoặc Clear bit TR0 (dừng bộ định thời) đối với Timer 0, và tương tự TR1 đối với Timer 1. Các lệnh này có tác dụng khi bit GATE = 0 trong thanh ghi TMOD.
Ø  Việc khởi động và ngừng bộ định thời bằng phần cứng từ nguồn ngoài bằng cách đặt bit GATE = 1 trong thanh ghi TMOD.

Tuy nhiên, để tránh sự lẫn lộn ngay từ bây giờ ta đặt GATE = 0 có nghĩa là không cần khởi động và dừng các bộ định thời bằng phần cứng từ bên ngoài.

Ví dụ 3:
TMOD = 0000 0010: Bộ định thời là Timer0, chế độ 2, C/T = 0 dùng nguồn XTAL, GATE = 0 dùng phần mềm để khởi động và dừng bộ định thời.

            Như vậy, bây giờ chúng ta đã có hiểu biết cơ bản về vai trò của thanh ghi TMOD, chúng ta sẽ xét từng chế độ của bộ định thời và cách chúng được lập trình như thế nào để tạo ra một độ trễ thời gian.

1.2 Lập trình cho chế độ 1

            Dưới đây là những bước hoạt động của timer ở chế độ 1:

Ø  Đây là bộ định thời 16 bit, do vậy nó cho phép các giá trị 0000 đến FFFFHđược nạp vào các thanh ghi TL và TH của bộ định thời.
Ø  Sau khi TL và TH được nạp một giá trị khởi tạo 16 bit thì bộ định thời phải được khởi động. Điều này được thực hiện bởi việc SET bit TR0 đối vớiTimer 0 và SET bit TR1 đối với Timer 1.
Ø  Sau khi bộ định thời được khởi động, nó bắt đầu đếm lên. Nó đếm lên cho đến khi đạt được giới hạn FFFFH của nó. Sau đó, khi nó quay từ FFFFH về 0000thì nó bật lên bit cờ TF được gọi là cờ bộ định thời. Cờ bộ định thời này có thể được hiển thị. Khi cờ bộ định thời này được thiết lập, để dừng bộ định thời: ta thực hiện xóa các bit TR0 đối với Timer 0 hoặc TR1 đối với Timer 1. Ở đây cũng cần phải nhắc lại là đối với mỗi bộ định thời đều có cờ TF riêng của mình: TF0 đối với Timer 0 và TF1 đối với Timer 1.
Ø  Sau khi bộ định thời đạt được giới hạn của nó là giá trị FFFFH, muốn lặp lại quá trình thì các thanh ghi TH và TL phải được nạp lại với giá trị ban đầu và cờTF phải được xóa về 0.


Hình 5: Timer/counter chế độ 1

1.2.1 Các bước lập trình ở chế độ 1

            Để tạo ra một độ trễ thời gian dùng chế độ 1 của bộ định thời thì cần phải thực hiện các bước dưới đây:
1.      Nạp giá trị TMOD cho thanh ghi báo độ định thời nào (Timer0 hay Timer1) được sử dụng và chế độ nào được chọn.
2.      Nạp các thanh ghi TL và TH với các giá trị đếm ban đầu.
3.      Khởi động bộ định thời.
4.      Duy trì kiểm tra cờ bộ định thời TF bằng một vòng lặp để xem nó được bật lên 1 không. Thoát vòng lặp khi TF được lên cao.
5.      Dừng bộ định thời.
6.      Xoá cờ TF cho vòng kế tiếp.
7.      Quay trở lại bước 2 để nạp lại TL và TH.

Công thức tính toán độ trễ sử dụng chế độ 1 (16 bit) của bộ định thời đối với tần số thạch anh XTAL = f (MHz):

a) Tính theo số Hex
b) Tính theo số thập phân
(FFFF - YYXX + 1)*12/f (ms) trong đó YYXX là các giá trị khởi tạo của TH, TL tương ứng. Lưu ý rằng các giá trị YYXX là theo số Hex.
Chuyển đổi các giá trị YYXX của TH, TL về số thập phân để nhận một số thập phân NNNNN sau đó lấy (65536 – NNNNN)*12/f (ms).
Bảng 3: Công thức tính độ trễ thời gian theo tần số XTAL (f)

Ví dụ 4:
            Trong chương trình dưới đây ta tạo ra một sóng vuông với độ đầy xung 50% (cùng tỷ lệ giữa phần cao và phần thấp) trên chân P1.5. Bộ định thời Timer0 được dùng để tạo độ trễ thời gian:

#include<at89x51.h>                      //khai báo thư viện cho VĐK 89x51
void delay(void);                             //khi báo nguyên mẫu hàm con tạo trễ
main()
{
            P1_5=1;                                 //khởi tạo chân P1_5 ở mức cao
            while(1)                                 //vòng lặp vô hạn
            {
                        delay();                      //chương trình con tạo trễ
                        P1_5=~P1_5;            //đảo tín hiệu chân P1_5
            }
}
void delay(void)                              //định nghĩa hàm delay
{
                        TMOD=0x01;           //chọn timer0, chế độ 1, 16Bit
                        TL0=0xF2;                //nạp giá trị cho TL0
                        TH0=0xFF;                //nạp giá trị cho TH0
                        TR0=1;                       //khởi động timer0
                        while(!TF0){}           //vòng lặp kiểm tra cờ TF0
                        TR0=0;                       //ngừng timer0
                        TF0=0;                       //xóa cờ TF0
}

Trong chương trình chính (hàm main) thực hiện gọi hàm con delay() tạo trễ, và đảo liên tục tín hiệu đầu ra ở chân P1_5.
            Trong chương trình con delay() trên đây chú ý các bước sau:
1.      TMOD được nạp.
2.      Giá trị FFF2H được nạp và TH0 - TL0
3.      Bộ định thời Timer0 được khởi động bởi lệnh Set bit TR0.
4.      Bộ Timer0 đếm lên 01 sau mỗi chu kỳ của timer. Khi bộ định thời đếm tăng qua các trạng thái FFF3, FFF4 ... cho đến khi đạt giá trị FFFFH là nó quay về 0000H và bật cờ bộ định thời TF0 = 1. Tại thời điểm này vòng lặp kiểm tra cờ TF0 mới được thoát ra.
5.      Bộ Timer0 được dừng bởi lệnh clear bit TR0.
6.      Cờ TF0 cũng được xóa, sẵn sàng cho chu trình tiếp theo.

Lưu ý rằng để lặp lại quá trình trên ta phải nạp lại các thanh ghi TH và TL và khởi động lại bộ định thời (đơn giản là ta gọi lại hàm delay()).


Hình 6: Một chu trình đếm của timer0

Tính toán độ trễ tạo ra bởi bộ định thời ở chương trình trên với tần số XTAL=11,0592MHz:
            Bộ định thời làm việc với tần số đồng hồ bằng 1/12 tần số XTAL, do vậy ta có 11,0592MHz/12=0,9216MHz là tần số của bộ định thời. Kết quả là mỗi nhịp xung đồng hồ có chu kỳ T=1/0,9216MHz=1,085us. Hay nói cách khác, bộ Timer0 tăng 01 đơn vị sau 1,085ms để tạo ra bộ trễ bằng số_đếm´1,085ms.
            Số đếm bằng FFFFH - FFF2H = ODH (13 theo số thập phân). Tuy nhiên, ta phải cộng 1 vào 13 vì cần thêm  một nhịp đồng hồ để nó quay từ FFFFH về 0000H và bật cờ TF. Do vậy, ta có 14 ´ 1,085ms = 15,19ms cho nửa chu kỳ và cả chu kỳ là T = 2 ´ 15,19ms = 30, 38ms là thời gian trễ được tạo ra bởi bộ định thời.

            Tuy nhiên, trong tính toán độ trễ ở trên ta đã không tính đến tổng phí các lệnh cài đặt timer0, các lệnh kiểm tra trong vòng lặp, gọi hàm con… Chính các câu lệnh này làm cho độ trễ dài hơn, dẫn đến tần số của xung vuông ở đầu ra P1_5 không còn đúng như tính toán ở trên. Đây là nhược điểm của C trong lập trình VĐK. Tùy vào từng chương trình biên dịch, mỗi lệnh của C sẽ được biên dịch ra số lệnh ASM khác nhau, để tính toán chính xác ta phải tính cả tổng phí từng dòng lệnh ASM.

1.2.2 Tìm các giá trị cần được nạp vào bộ định thời

            Giả sử rằng chúng ta biết lượng thời gian trễ mà ta cần thì câu hỏi đặt ra là làm thế nào để tìm ra được các giá trị cần thiết cho các thanh thi TH và TL. Để tính toán các giá trị cần được nạp vào các thanh ghi TH và TL chúng ta hãy nhìn vào ví dụ sau với việc sử dụng tần số dao động XTAL = 11. 0592MHz đối với hệ thống 8051.

            Các bước để tìm các giá trị của các thanh ghi TH và TL:
1.      Chia thời gian trễ cần thiết cho 1.085ms
2.      Thực hiện 65536 - n với n là giá trị thập phân nhận được từ bước 1.
3.      Chuyển đổi kết quả ở bước 2 sang số Hex: ta có YYXX là giá trị Hexa ban đầu cần phải nạp vào các thanh ghi bộ định thời.
4.      Đặt TL = XX và TH = YY.

Ví dụ 5:
            Giả sử tần số XTAL = 11.0592MHz. Hãy tìm các giá trị cần được nạp vào các thanh ghi vào các thanh ghi TH và TL nếu ta muốn độ thời gian trễ là 5ms.
Lời giải:
            Vì tần số XTAL = 11.0592MHz nên bộ đếm tăng sau mỗi chu kỳ 1.085ms. Điều đó có nghĩa là phải mất rất nhiều khoảng thời gian 1,085ms để có được một xung 5ms. Để có được ta chia 5ms cho 1.085ms và nhận được số n = 4608 nhịp. Để nhận được giá trị cần được nạp vào TL và TH thì ta tiến hành lấy 65536 trừ đi 4608 bằng 60928. Ta đổi số này ra số hex thành EE00H. Do vậy, giá trị nạp vào TH là EE Và TL là 00.

void delay(void)                              //định nghĩa hàm delay
{
                        TMOD=0x01;           //chọn timer0 chế độ 1 16Bit
                        TL0=0x00;                //nạp giá trị cho TL0
                        TH0=0xEE;               //nạp giá trị cho TH0
                        TR0=1;                       //khởi động timer0
                        while(!TF0){}           //vòng lặp kiểm tra cờ TF0
                        TR0=0;                       //ngừng timer0
                        TF0=0;                       //xóa cờ TF0
}

Ví dụ 6:
            Giả sử ta có tần số XTAL là 11,0592MHz. Hãy tìm các giá trị cần được nạp vào các thanh ghi TH và TL để tạo ra một sóng vuông tần số 2kHz.
Xét các bước sau:
1. T = 1/f = 1/2KHz = 500us là chu kỳ của sóng vuông.
2.  Khoảng thời gian phần cao và phần thấp là: T/2 = 250ms.
3.      Số nhịp cần trong thời gian đó là:250us/1,085us = 230. Giá trị cần nạp vào các thanh ghi cần tìm là 65536 - 230 = 65306 và ở dạng hex là FF1AH.
4.      Giá trị nạp vào TL là 1AH, TH là FFH.
Chương trình cần viết là:

void delay(void)                              //định nghĩa hàm delay
{
                        TMOD=0x10;           //chọn timer1 chế độ 1 16Bit
                        TL1=0x1A;               //nạp giá trị cho TL1
                        TH1=0xFF;                //nạp giá trị cho TH1
                        TR1=1;                       //khởi động timer1
                        while(!TF1){}           //vòng lặp kiểm tra cờ TF1
                        TR1=0;                       //ngừng timer1
                        TF1=0;                       //xóa cờ TF1
}

1.3 Chế độ 0

            Chế độ 0 hoàn toàn giống chế độ 1 chỉ khác là bộ định thời 16 bit được thay bằng13 bit. Bộ đếm 13 bit có thể giữ các giá trị giữa 0000 đến 1FFFF trong TH - TL. Do vậy khi bộ định thời đạt được giá trị cực đại của nó là 1FFFH thì nó sẽ quay trở về 0000và cờ TF được bật lên.

1.4 Lập trình cho chế độ 2

            Dưới đây là những bước hoạt động của timer ở chế độ 2:

Ø  Nó là một bộ định thời 8 bit, do vậy nó chỉ cho phép các giá trị từ 00 đến FFHđược nạp vào thanh ghi TH của bộ định thời.
Ø  Sau khi 2 thanh ghi TH và TL được nạp giá trị ban đầu thì bộ định thời phải được khởi động.
Ø  Sau khi bộ định thời được khởi động, nó bắt đầu đếm tăng lên bằng cách tăng thanh ghi TL. Nó đếm cho đến khi đại giá trị giới hạn FFH của nó. Khi nó quay trở về 00 từ FFH, nó thiết lập cờ bộ định thời TF. Nếu ta sử dụng bộ định thời Timer0 thì đó là cờ TF0, còn Timer1 thì đó là cờ TF1.
Ø  Khi thanh ghi TL quay trở về 00 từ FFH, cờ TF được bật lên 1 thì thanh ghi TLđược tự động nạp lại với giá trị sao chép từ thanh ghi TH. Để lặp lại quá trình chúng ta đơn giản chỉ việc xoá cờ TF và để cho nó chạy mà không cần sự can thiệp của lập trình viên để nạp lại giá trị ban đầu. Điều này làm cho chế độ 2 được gọi là chế độ tự nạp lại so với chế độ 1 (phải nạp lại các thanh ghi TH và TL).


Hình 7: Timer/counter chế độ 2

Cần phải nhấn mạnh rằng: chế độ 2 là bộ định thời 8 bit. Tuy nhiên, nó lại có khả năng tự nạp, khi tự nạp lại thì giá trị ban đầu của TH được giữ nguyên, còn TL được nạp lại giá trị sao chép từ TH.

Chế độ này có nhiều ứng dụng, bao gồm việc thiết lập tần số baud trong truyền thông nối tiếp.

1.4.1 Các bước lập trình cho chế độ 2

Để tạo ra một thời gian trễ sử dụng chế độ 2 của bộ định thời cần thực hiện các bước sau:
1.      Nạp thanh ghi giá trị TMOD để báo bộ định thời gian nào (Timer0 hay Timer1) được sử dụng và chế độ làm việc nào của chúng được chon.
2.      Nạp lại thanh ghi TH và TL với giá trị đếm ban đầu.
3.      Khởi động bộ định thời.
4.      Duy trì kiểm tra cờ bộ định thời TF bằng cách sử dụng một vòng lặp để xem nó đã được bật chưa. Thoát vòng lặp khi TF lên cao.
5.      Dừng bộ định thời.
6.      Xoá cờ TF.
7.      Quay trở lại bước 3. Vì chế độ 2 là chế độ tự nạp lại.

Ví dụ 7 minh hoạ những điều này:

Ví dụ 7:
#include<at89x51.h>                      //khai báo thư viện cho VĐK 89x51        
void delay(void);                             //khi báo nguyên mẫu hàm con tạo trễ
main()
{
            TMOD=0x20;                       //chọn timer1, chế độ 2, 8Bit, tự nạp lại
            TH1=0x00;                            //nạp giá trị cho TH1
            TL1=0xFE;                            //nạp giá trị cho TL1
            P1_5=1;                                 //khởi tạo chân P1_5 ở mức cao
            while(1)                                 //vòng lặp vô hạn
            {
                        delay();                      //gọi chương trình con tạo trễ
                        P1_5=~P1_5;            //đảo tín hiệu chân P1_5
            }
}
void delay(void)                              //định nghĩa hàm delay
{
                        TR1=1;                       //khởi động timer1
                        while(!TF1){}           //vòng lặp kiểm tra cờ TF1
                        TR1=0;                       //ngừng timer1
                        TF1=0;                       //xóa cờ TF1
}

Hàm delay() trên sẽ tạo một độ trễ bằng 256 lần (FF - 00 + 1) chu kỳ của timer (không tính tổng phí các lệnh) kể từ chu trình thứ 2. Vì chu trình đầu tiên timer1 bắt đầu đếm ở vị trí 0xFE, kể từ chu trình sau thì thanh ghi TL1 mới sao chép được giá trị ở TH1.


2. Bộ đếm

            Ở phần trên đây ta đã sử dụng các bộ định thời của 8051 để tạo ra các độ trễ thời gian. Các bộ định thời này cũng có thể được dùng như các bộ đếm (counter) các sự kiện xảy ra bên ngoài 8051. Công dụng của bộ đếm sự kiện sẽ được tình bày ở phần này. Chừng nào còn liên quan đến công dụng của bộ định thời như bộ đếm sự kiện thì mọi vấn đề mà ta nói về lập trình bộ định thời ở phần trước cũng được áp dụng cho việc lập trình như là một bộ đếm ngoại trừ nguồn tần số.
Đối với bộ định thời/bộ đếm khi dùng nó như bộ định thời thì nguồn tần số là tần số thạch anh của 8051. Tuy nhiên, khi nó được dùng như một bộ đếm thì nguồn xung để tăng nội dung các thanh ghi TH và TL là từ bên ngoài 8051.
Ở chế độ bộ đếm, hãy lưu ý rằng các thanh ghi TMOD và TH, TL cũng giống như đối với bộ định thời được bàn ở phần trước, thậm chí chúng vẫn có cùng tên gọi. Các chế độ của các bộ đếm cũng giống nhau.

2.1 Bit C/T trong thanh ghi TMOD

            Xem lại phần trên về bit C/T trong thanh ghi TMOD: ta thấy rằng nó quyết định nguồn xung đồng hồ cho bộ đếm:

Ø  Nếu bit C/T = 0 thì  bộ định thời nhận các xung đồng hồ từ bộ giao động thạch anh của 8051.
Ø  Nếu bit C/T  = 1 thì bộ định thời được sử dụng như bộ đếm và nhận các xung đồng hồ từ nguồn bên ngoài của 8051.

Do vậy, nếu bit C/T = 1 thì bộ đếm tăng lên khi các xung được đưa đến chân P3.4 (T0) đối với counter0 và chân P3.5 (T1) đối với counter1.

Chân
Chân cổng
Chức năng
Mô tả
14
P3.4
T0
Đầu vào ngoài của bộ đếm 0
15
P3.5
T1
Đầu vào ngoài của bộ đếm 1
Bảng 4: Các chân cổng P3 được dùng cho bộ đếm 0 và 1

Ví dụ 8:
            Chương trình sau sử dụng bộ đếm 1, đếm các xung ở chân P3.5 và hiển thị số đếm được (trong thanh ghi TL1) lên cổng P2:

#include<at89x51.h>          //khai báo thư viện 89x51
main()                                                //chương trình chính
{
            TMOD=0x60;           //0x60=0110 000 : C/T=1, bộ đếm 1, chế độ 2 tự nạp
            TH1=0x00;                //xóa bộ đếm ban đầu

            P3_5=1;                     //set chân vào cho bộ đếm
            TR1=1;                       //khởi động bộ đếm 1

            while(1)                     //vòng lặp vô hạn
            {
                        P2=TL1;         //hiển thị số đếm được ra cổng P2
            }
}

            Trong ví dụ 8 chúng ta sử dụng bộ  counter1 như bộ đếm sự kiện để nó đếm lên mỗi khi các xung đồng hồ được cấp đến chân P3.5. Các xung đồng hồ này có thể biểu diễn số người đi qua cổng hoặc số vòng quay hoặc bất kỳ sự kiện nào khác mà có thể chuyển đổi thành các xung.

2.2 Thanh ghi TCON

            Trong các ví dụ trên đây ta đã thấy công dụng của các cờ TR0 và TR1 để bật/tắt các bộ đếm/bộ định thời. Các bit này là một bộ phận của thanh ghi TCON. Đây là thanh ghi 8 bit, như được chỉ ra trong hình 2:

Ø  4 bit trên được dùng để lưu cất các bit TF và TR cho cả Timer/counter 0 và Timer/counter 1.
Ø  4 bit thấp được thiết lập dành cho điều khiển các ngắt mà ta sẽ bàn ở các bài sau.


Hình 8: Thanh ghi TCON – Điều khiển bộ đếm/bộ định thời

2.3 Trường hợp khi bit GATE = 1 trong TMOD

            Trước khi kết thúc bài này ta cần bàn thêm về trường hợp khi bit GATE = 1 trong thanh ghi TMOD. Tất cả những gì chúng ta vừa nói trong bài này đều giả thiết GATE = 0. Khi GATE = 0 thì bộ đếm/bộ định thời được khởi động bằng các lệnh Set bit TR0 hoặcTR1. Vậy điều gì xảy ra khi bit GATE = 1?
Nếu GATE = 1 thì việc khởi động và dừng bộ đếm/bộ định thời được thực hiện từ bên ngoài qua chân P3.2 (INT0) và P3.3 (INT1) đối với Timer/counter 0 và Timer/counter 1 tương ứng. Phương pháp điều khiển bằng phần cứng để dừng và khởi động bộ đếm/bộ định thời này có thể có rất nhiều ứng dụng.
Ví dụ: chẳng hạn 8051 được dùng trong một sản phẩm phát báo động mỗi giây dùng bộ Timer0 theo nhiều việc khác. Bộ Timer0 được bật lên bằng phần mềm qua lệnh Set bit TR0 và nằm ngoài sự kiểm soát của người dùng sản phẩm đó. Tuy nhiên, khi nối một công tắc chuyển mạch tới chân P2.3 ta có thể dừng và khởi động bộ định thời, bằng cách đó ta có thể tắt báo động.

LinkLabel trong C#

LinkLabel trong C#



A LinkLabel control is a label control that can display a hyperlink. A LinkLabel control is inherited from the Label class so it has all the functionality provided by the Windows Forms Label control. LinkLabel control does not participate in user input or capture mouse or keyboard events. 

In this article, I will discuss how to create a LinkLabel control in Windows Forms at design-time as well as run-time. After that, I will continue discussing various properties and methods available for the LinkLabel control. 

In Visual Studio 2010, the ToolStripLabel control is recommended for a LinkLabel control.
Creating a LinkLabel
There are two ways to create a control.
Design-time
First, we can use the Form designer of Visual Studio to create a control at design-time. In design-time mode, we can use visual user interfaces to create a control properties and write methods.
To create a LinkLabel control at design-time, you simply drag and drop a LinkLabel control from Toolbox to a Form. After you drag and drop a LinkLabel on a Form. The LinkLabel looks like Figure 1. Once a LinkLabel is on the Form, you can move it around and resize it using mouse and set its properties and events.
LinkLabelImg1.jpg
Figure 1
Run-time
LinkLabel class represents a hyperlink Label control. We simply create an instance of LinkLabel class, set its properties and add this it to the Form controls.
In the first step, we create an instance of the LinkLabel class. The following code snippet creates a LinkLabel control object.
LinkLabel dynamicLinkLabel = new LinkLabel();

In the next step, we set properties of a LinkLabel control. The following code snippet sets background color, foreground color, Text, Name, and Font properties of a LinkLabel.
// Set background and foreground
dynamicLinkLabel.BackColor = Color.Red;
dynamicLinkLabel.ForeColor = Color.Blue;
         
dynamicLinkLabel.Text = "I am a Dynamic LinkLabel";
dynamicLinkLabel.Name = "DynamicLinkLabel";
dynamicLinkLabel.Font = new Font("Georgia", 16);

In the last step, we need to add a LinkLabel control to the Form by calling Form.Controls.Add method. The following code snippet adds a LinkLabel control to a Form.

Controls.Add(dynamicLinkLabel);  
Setting LinkLabel Properties
After you place a LinkLabel control on a Form, the next step is to set properties.
The easiest way to set properties is from the Properties Window. You can open Properties window by pressing F4 or right click on a control and select Properties menu item. The Properties window looks like Figure 2.
LinkLabelImg2.jpg
Figure 2
Name 
Name property represents a unique name of a LinkLabel control. It is used to access the control in the code. The following code snippet sets and gets the name and text of a LinkLabel control.
dynamicLinkLabel.Name = "DynamicLinkLabel";
string name = dynamicLinkLabel.Name;
Location, Height, Width, and Size 

The Location property takes a Point that specifies the starting position of the LinkLabel on a Form. The Size property specifies the size of the control. We can also use Width and Height property instead of Size property. The following code snippet sets Location, Width, and Height properties of a LinkLabel control.
dynamicLinkLabel.Location = new Point(20, 150);
dynamicLinkLabel.Height = 40;
dynamicLinkLabel.Width = 300;
Background, Foreground, BorderStyle
BackColor and ForeColor properties are used to set background and foreground color of a LinkLabel respectively. If you click on these properties in Properties window, the Color Dialog pops up.
Alternatively, you can set background and foreground colors at run-time. The following code snippet sets BackColor and ForeColor properties.
dynamicLinkLabel.BackColor = Color.Red;
dynamicLinkLabel.ForeColor = Color.Blue;
You can also set borders style of a LinkLabel by using the BorderStyle property. The BorderStyle property is represented by a BorderStyle enumeration that has three values – FixedSingle, Fixed3D, and None.  The default value of border style is Fixed3D. The following code snippet sets the border style of a LinkLabel to FixedSingle.
dynamicLinkLabel.BorderStyle = BorderStyle.FixedSingle;
Font 

Font property represents the font of text of a LinkLabel control. If you click on the Font property in Properties window, you will see Font name, size and other font options. The following code snippet sets Font property at run-time.
dynamicLinkLabel.Font = new Font("Georgia", 16);
Text and TextAlign, and TextLength 
Text property of a LinkLabel represents the current text of a LinkLabel control. The TextAlign property represents text alignment that can be Left, Center, or Right. The TextLength property returns the length of a LinkLabel contents.
The following code snippet sets the Text and TextAlign properties and gets the size of a LinkLabel control.
dynamicLinkLabel.Text = "I am Dynamic LinkLabel";
dynamicLinkLabel.TextAlign  = HorizontalAlignment.Center;
int size = dynamicLinkLabel.TextLength;
Append Text 

We can append text to a LinkLabel by simply setting Text property to current text plus new text you would want to append something like this.
dynamicLinkLabel.Text += " Appended text";
AutoEllipsis
An ellipsis character (...) is used to give an impression that a control has more characters but it could not fit in the current width of the control. If AutoEllipsis property is true, it adds ellipsis character to a control if text in control does not fit. You may have to set AutoSize to false to see the ellipses character.
Image in LinkLabel 

The Image property of a
 LinkLabel control is used to set a LinkLabel background as an image. The Image property needs an Image object. The Image class has a static method called FromFile that takes an image file name with full path and creates an Image object.
You can also align image and text. The ImageAlign and TextAlign properties of Button are used for this purpose.
The following C# code snippet sets an image as a LinkLabel background. dynamicLinkLabel.Image = Image.FromFile(@"C:\Images\Dock.jpg"); dynamicLinkLabel.ImageAlign = ContentAlignment.MiddleRight;dynamicLinkLabel.TextAlign = ContentAlignment.MiddleLeft; dynamicLinkLabel.FlatStyle = FlatStyle.Flat;
Hyperlink Properties

Here are the hyperlink related properties available in the LinkLabel control.
Links and LinkArea 

A LinkLabel control can display more than one hyperlink. The Links property a type of LinkCollection represents all the hyperlinks available in a LinkLabel control. The Add method of LinkColleciton is used to add a link to the collection. The Remove and RemoveAt methods are used to remove a link from the LinkCollection. The Clear method is used to remove all links from a LinkCollection.
LinkArea property represents the range of text that is treated as a part of the link. It takes a starting position and length of the text.
The following code snippet ads a link and sets LinkArea and a link click event handler.
dynamicLinkLabel.LinkArea = new LinkArea(0, 22);
dynamicLinkLabel.Links.Add(24, 9, "http://www.c-sharpcorner.com");
dynamicLinkLabel.LinkClicked += new LinkLabelLinkClickedEventHandler(LinkedLabelClicked);
Here is the code for the LinkLabel click event handler and uses Process.Start method to open a hyperlink in a browser.
private void LinkedLabelClicked(object sender, LinkLabelLinkClickedEventArgs e)
{
    dynamicLinkLabel.LinkVisited = true;
    System.Diagnostics.Process.Start("http://www.c-sharpcorner.com");    
}
LinkColor, VisitedLinkColor, ActiveLinkColor and DisabledLinkColor 

LinkColor, VisitedLinkColor, ActiveLinkColor and DisabledLinkColor properties represent colors when a hyperlink is in normal, visited, active, or disabled mode. The following code snippet sets these colors.
dynamicLinkLabel.ActiveLinkColor = Color.Orange;
dynamicLinkLabel.VisitedLinkColor = Color.Green;
dynamicLinkLabel.LinkColor = Color.RoyalBlue;
dynamicLinkLabel.DisabledLinkColor = Color.Gray;

Summary

A LinkLabel control is used to display a hyperlink and can be used to click the hyperlink to open a URL.. In this article, we discussed discuss how to create a LinkLabel control in Windows Forms at design-time as well as run-time. After that, we saw how to use various properties and methods.

MSP430F55xx Development Kit

Giới thiệu

OverView.png
MSP430F55xx Development Kit là một sản phẩm được thiết kế riêng, chuyên dụng, dành cho họ vi điều khiển MSP430F5xx của Texas Instruments. Đây là dòng vi điều khiển với các tính năng vượt trội về siêu tiết kiệm năng lượng, tần số hoạt động cao, tích hợp nhiều tính năng trên một con chip duy nhất. Vi xử lý với kiến trúc RISC, thanh ghi 16-bit và các bộ tạo hằng số cho phép đạt hiệu quả thực thi mã lập trình cao nhất. Bộ tạo tần số dao động nội (DCO) cho phép thời gian chuyển từ chế độ tiết kiệm năng lượng sang chế độ hoạt động bình thường < 5us.
Ưu điểm vượt trội của MSP430F55xx Development Kit là khả năng có thể nạp lại chương trình mà không cần phải dùng mạch nạp hoặc một thiết bị nào khác. Trên kit tích hợp sẵn một cổng USB 2.0 cho phép người sử dụng nạp lại chương trình bằng cách chuyển đổi jump (BOOT) để thay đổi giữa chế độ nạp và chế độ hoạt động bình thường. Cổng USB đó cũng được dùng để kit giao tiếp với máy tính, thư viện lập trình API đã được cung cấp sẵn bởi Texas Instruments.
Các tính năng của MSP430F55xx Development Kit
  • 31 chân giao tiếp ngoại vi.
  • Dải điện áp cung cấp cho kit từ 4.5Vdc – 20Vdc.
  • 2 LED xanh – đỏ có thể điều khiển được. 1 LED báo nguồn.
  • 1 nút nhấn kết nối với chân I/O (P2.0) và 1 nút nhấn reset.
  • Nạp lại chương trình mà không cần mạch nạp hay một thiết bị nào khác.
  • Giao tiếp với máy tính thông qua chuẩn USB 2.0.
Các thành phần chính của MSP430F55xx Development Kit
  • Dây cáp và cổng USB.
  • Thạch anh 32768Hz.
  • 2 header kết nối đực hoặc cái.
  • IC ổn áp nguồn ASM1117 – 3.3v
  • MSP430F5510 với 4 timer 16-bit, bộ chuyển đổi ADC tốc độ cao (> 200ksps), bộ giao tiếp nối tiếp USCI, bộ nhân phần cứng, DMA, bộ đếm thời gian thực và 31 chân I/O.


Cài đặt phần cứng và phần mềm


Cài đặt phần mềm

USB Firmware Upgrade.png
Hai trình biên dịch phổ biến được sử dụng với MSP430 là IAR Embedded Workbench Kickstart và Code Composer Studio(CCS). Cả hai trình biên dịch này đều có bản miễn phí và trả phí. IAR Embedded Workbench cho phép biên dịch đoạn mã assembly với dung lượng mã không giới hạn và giới hạn 4kB mã nguồn C. CCS giới hạn dung lượng mã nguồn C với 16kB. Ngoài ra, còn một số trình biên dịch khác như MSPGCC, Rowley Crossworks. Các bài lab được viết cho kit sử dụng trình biên dịch IAR và CCS. Chương trình để nạp cho MSP430F5xx Development Kit là USB Firmware Upgrade, được phát triển bởi Texas Instruments. Giao diện chương trình được thiết kế đơn giản, chỉ cần chọn file sau khi biên dịch bởi IAR hoặc CCS (*.txt) và nhấn Upgrade. Giao diện chương trình được mô tả ở hình bên. Chương trình kết nối với kit thông qua driver cổng COM ảo. Driver đã được cài kèm theo trong bộ cài đặt của IAR và CCS. Hoặc nếu không có sẵn, driver có thể được tải về tại đây.


Cài đặt phần cứng

Hàn linh kiện
MSP430F55xx Development Kit được thiết kế để người dùng có được sự thuận tiện nhất khi sử dụng. Hai hàng chân kết nối ngoại vi với kit được để trống cho người sử dụng tùy ý chọn kiểu header muốn dùng. Trước khi có thể sử dụng, hai lược (đực hoặc cái) phải được hàn vào hai hàng chân của kit.
Kết nối thạch anh 32768Hz
MSP430F5510 tích hợp sẵn module Real-Time Clock (RTC) cho phép ứng dụng có thể hoạt động với tính năng thời gian thực. Để sử dụng tính năng này, 2 chân XIN/XOUT của bộ tạo dao động UCS (Unified Clock System) cần được cấp xung clock với tần số thấp như thạch anh 32768Hz. Khi chức năng RTC không được sử dụng, hai chân XIN/XOUT có thể được cấu hình để sử dụng như một chân I/O.


Làm quen với MSP430F55xx Development Kit



Làm quen

MSP430F55xx Development Kit đã được nạp sẵn chương trình nháy LED và đo nhiệt độ. Khi kết nối kit lần đầu tiên với máy tính thông qua cổng USB, 2 LED xanh - đỏ sẽ nháy, báo hiệu kit đã được cấp nguồn và hoạt động chính xác. Thông tin chi tiết về chương trình nháy LED được ghi ở mục Các ứng dụng demo.


Các ứng dụng demo

Tại lần sử dụng đầu tiên, để kích hoạt các ứng dụng demo, chuyển jump (BOOT) sang chế độ hoạt động bình thường như hình bên và kết nối với máy tính thông qua cổng USB. Nút nhấn S1 được sử dụng để chuyển từ chương trình nháy LED sang chương trình đo nhiệt độ và ngược lại. Mã nguồn IAR và CCS của chương trình có thể được tải về tại đây.
Chương trình nháy LED
Đảm bảo rằng hai LED xanh - đỏ đã được nối với P1.0 và P1.1 thông qua P1, P2 (shorting jumper). Kết nối dây cáp USB với máy tính. LED xanh và đỏ sẽ chớp nháy liên tục.
Chương trình đo nhiệt độ
Nhấn nút S1 để chuyển sang chương trình demo hiển thị nhiệt độ. Trong MSP430F5510 có tích hợp một module cảm biến nhiệt độ, cho phép theo dõi nhiệt độ bên trong chip. Chương trình này sử dụng module ADC 10-bit để lấy mẫu, tính toán chuyển sang giá trị độ C, F và gửi lên máy tính thông qua cổng USB, chuẩn giao tiếp CDC. Để hiển thị nhiệt độ trên máy tính cần có một chương trình giao tiếp với kit, nhận dữ liệu và hiển thị nhiệt độ. Hình bên mô tả giao diện chương trình connectMSP430temperature. Các bước để sử dụng chương trình:
  • Driver cần được phải cài sẵn.
  • Hệ điều hành Windows XP với .NET framework hoặc Windows Vista trở lên.
  • Chuyển kit sang chế độ hoạt động bình thường (Xem hình 3.3).
  • Kết nối kit với máy tính qua cổng USB.
  • Chọn cổng COM kết nối theo các bước sau: Click chuột phải vào Computer ! Manage ! Device manager ! Ports (COMand LPT). Xem cổng kết nối của: MSP-FET430UIF - CDC. Chọn cổng COM đó tại mục Serial Port của giao diện chương trình.
  • Nhấn nút Start để bắt đầu nhận dữ liệu.
  • Click vào nút Help để xem hướng dẫn chi tiết hơn.

Tạo ứng dụng Visual C++ đơn giản nhất để học C

Tạo ứng dụng Visual C++ đơn giản nhất để học C

Dưới đây là các bước để tạo một ứng dụng đơn giản trong Visual C++. Những hình minh họa là cho Visual C++ 2010 Express, tuy nhiên, những phiên bản khác như Visual Studio 2005/2008/2010, Visual C++ 2008 Express đều có thể áp dụng được (giao diện có thể hơi khác một tí).

Bước 1. Khởi động Visual C++ 2010 Express  

Bằng cách Start → Programs → Microsoft Visual Studio 2010 Express → Microsoft Visual C++ 2010 Express, giao diện của VS10 Express sẽ hiện ra như hình 1:
 
Hình 1

Bước 2. Tạo một ứng dụng rỗng (kiểu Win32)   

Với VS10 Express nói riêng và VS10 nói chung, ta có thể xây dựng được rất nhiều loại chương trình: chạy trên web, trên điện thoại thông minh, trên máy tính cá nhân,... Trên máy tính cá nhân cũng có nhiều loại chương trình: ứng dụng winform (vd: chương trình quản lý nhân sự), thư viện (các file DLL), ứng dụng console (có cửa sổ nền đen chữ trắng như màn hình DOS thời xưa),... Ứng dụng console lại có 2 kiểu: chạy trên nền .NET Framework (CLR Console Application) và chạy trên nền hệ điều hành Windows (Win32 Console Application).
Trong số các loại ứng dụng này, ứng dụng console là đơn giản nhất vì không làm việc nhiều với giao diện (không có nút nhấn, không có hộp thả xuống, không có các biểu tượng hình ảnh đẹp mắt,...), do đó, nó rất thích hợp cho những newbie (tân binh) mới chập chững bước vào thế giới lập trình. Do với mục đích là HỌC nên chỉ sử dụng những chức năng cơ bản nhất, không cần những tính năng của mạnh mẽ khi viết trên nền .NET Framework, do vậy tôi chọn kiểu Win32 Console Application.
- Để bắt đầu việc tạo một solution (tạm dịch thoáng là "ứng dụng") mới, ta có nhiều cách để làm.
Cách 1: File → New → Project.
Cách 2: nhấn tổ hợp phím Ctrl + Shift + N.
Cách 3: trong vùng Start Page (khi VS mới khởi động), kích vào New Project.
     
Hình 2
- Trong cửa sổ New Project, đầu tiên kích chọn loại ứng dụng là Win32 [1], Win32 Console Application [2], sau đó gõ tên và thư mục chứa ứng dụng [3]. Chú ý: nên kích chọn Create directory for solution [4] để VS tạo một thư mục có tên là tên của ứng dụng và sẽ đưa tất cả những tập tin liên quan vào thư mục này (để dể quản lý). Cuối cùng, kích nút OK.
 
Hình 3
- Cửa sổ tiếp theo (Win32 Application Wizard) không có gì quan trọng. Kích nút Next để tiếp tục.
 
Hình 4
- Trong cửa sổ cuối cùng, trước tiên phải cọn loại ứng dụng là Console applicaton [1], sau đó bỏ chọn mục Precompiled header [2], chọn Empty project [3] và kích nút Finish [4] để VS bắt đầu tạo khung ứng dụng kiểu Win32 Console "rỗng".
 
Hình 5
- Thành quả của bước này sẽ như hình dưới đây: một solution (ứng dụng) chỉ có 1 project (dự án) và trong dự án này chỉ có 4 thư mục rỗng. Công việc tiếp theo sẽ là đưa thêm gì đó vào cái khung rỗng này để có được một chương trình "chạy được" :-)
 
Hình 6

Bước 3. Thêm mới một tập tin mã nguồn C/C++   

Kích phải vào hàng thứ 2 trong cửa sổ Solution Explorer, chọn Add → New Item.
 
Hình 7
- Trong cửa sổ Add New Item, trước tiên, kích chọn ngôn ngữ của ứng dụng (là Visual C++) [1], sao đó chọn loại tập tin sẽ tạo (là C++ File) [2], nhập tên của tập tin [3] và kích nút Add để VS bắt đầu tạo tập tin C để "gắn" vào ứng dụng.
 
Hình 8

Bước 4. Viết mã và Biên dịch chương trình   

Kích đúp vào tập tin mới tạo sau đó nhìm vào phần trung tâm của Visual Studio, bạn sẽ thấy 1 vùng rỗng (tab) có tên là tên của tập tin (ở đây là ChaoC.cpp). Đây chính là nội dung của tập tin này. Tiếp theo, chúng ta sẽ viết một chương trình C đơn giản nhất vào đây. Chương trình chỉ có một công việc đơn giản là hiển thị một dòng chào mừng: "Chao C! Chao Visual C++ 2010 Express!". Nhập nội dung chương trình như hình dưới (vùng [1]) và kích chọn Build → Build Solution hoặc nhấn phím F6 để biên dịch chương trình. Kết quả biên dịch được hiển thị ở cửa sổ Output [2]. Liếc nhìn hàng cuối cùng của cửa sổ Outputthấy "1 succeeded, 0 failed" nghĩa là đã biên dịch thành công, sẵn sàng chạy chương trình :-)
 
Hình 9

Bước 5. Thực thi chương trình  

Kích chọn Debug → Start Debugging (hoặc nhấn phím F5) để thực thi (chạy) chương trình. Kết quả chỉ đơn giản là một dòng chữ chào mừng màu trắng trên nền đen.
 
Hình 10
Đến đây coi như xong viết xong một ứng dụng C đơn giản nhất trên Visual C++ 2010 Express. Để làm các bài tập khác về C, chỉ đơn giản thay đổi nội dung chương trình ở vùng [1] trong bước 3 (Viết mã và Biên dịch chương trình).
Chúc các bạn sinh viên có một sự khởi đầu suôn sẻ.
Chúc mọi người học lập trình vui :-)
Visual C++